Chữ Quốc Ngữ – Nơi Khởi Nguồn &Amp; Bắt Đầu Hành Trình Truyền Giáo

Phước Quang – Nước Mặn: Nơi phôi thai Chữ Quốc Ngữ và Hành Trình Truyền Giáo Vào Việt Nam

Khám phá hành trình truyền giáo và sự ra đời của Chữ Quốc Ngữ

Trong bản đồ lịch sử Việt Nam, những địa danh như Thăng Long, Huế, Hội An thường được nhắc đến như trung tâm văn hóa – chính trị. Nhưng có một vùng đất khiêm nhường ở Bình Định cũ, nay thuộc tỉnh Gia Lai là “Phước Quang, Tuy Phước“, với một tên gọi đầy nước non “Nước Mặn“, lại là nơi âm thầm khởi nguồn một cuộc cách mạng chữ viết: Chữ Quốc ngữ.
Tại đây, vào đầu thế kỉ XVII, năm 1618, giữa những cánh đồng lúa xen kẽ những lũy tre, các giáo sĩ Dòng Tên đã dựng lên một trung tâm truyền giáo, đồng thời tiến hành công trình ngôn ngữ vĩ đại, đặt nền móng cho thứ chữ viết Latin hóa tiếng Việt, mà hôm nay chúng ta đang sử dụng. Có thể nói Hội An, Nước Mặn, Dinh Chiêm, là những vùng đất đầu tiên trong hành trình truyền đạo Công giáo vào Việt Nam, và Nước Mặn, là nơi phôi thai chữ Quốc Ngữ.

1. Bối cảnh lịch sử – Khi bước chân truyền giáo chạm vào Đại Việt

Sóng thương mại hàng hải và tôn giáo thế kỷ XVII

Thế kỉ XVII là thời kỳ các thương thuyền Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Trung Quốc, … dọc ngang biển Đông. Năm 1615 đoàn thừa sai đầu tiên đến Hội An, (nay thuộc Đà Nẵng)sau đó đến Nước Mặn năm 1618, và Thanh Chiêm năm 1623, những thương cảng sầm uất – Cửa ngõ cho những luồng giao lưu hàng hóa, văn hóa, cả tôn giáo.

Công giáo du nhập vào Việt Nam trong bối cảnh này. Ban đầu, các giáo sĩ Dòng Tên (Society of Jesus – Jesuits) đến Đàng Trong thông qua những chuyến hải hành của người Bồ Đào Nha và Nhật Bản. Francisco de Pina, Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa, Alexandre de Rhodes, … là những tên tuổi gắn với bước đầu truyền giáo.

2. Vì sao Nước Mặn – Phước Quang trở thành điểm “phôi thai – Cái Nôi” chữ Quốc Ngữ

Vị trí chiến lược

Nước Mặn nằm ở vùng cửa biển, cách Quy Nhơn không xa, lại gần các tuyến đường thủy – bộ, thuận lợi cho giao thương và tiếp cận cộng đồng. Nơi đây từng là thương cảng của người Chăm, rồi trở thành một làng ven biển của người Việt, nơi cư dân sống bằng đánh cá, buôn bán và làm muối.

Sự lựa chọn của các giáo sĩ

Năm 1615, các giáo sĩ Dòng Tên từ Macao qua Cửa Hàn, Hội An, để truyền giáo. Một số người dân đã theo đạo công giáo. Năm đó khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, mất mùa, nên dân tình đói khổ. Một số người tố cáo với Triều đình nhà Nguyễn, họ cho rằng do một số dân đã bỏ đạo Ông bà, theo thứ đạo lạ, vì vậy ông Trời nổi giận trừng phạt bắt mất mùa, đói khổ. … Chúa Nguyên tức giận, cho lệnh trục xuất các giáo sĩ khỏi địa phận. Các giáo sĩ gặp vô vàn khó khăn trong giai đoạn này, phải trốn chạy khắp nơi, lúc thì trôi dạt ngoài biển, trốn chạy khỏi sự truy bắt của chính quyền địa phương. May thay các ngài được Quan Khâm Sứ phủ Quy Nhơn Trần Đức Hòa đưa về Quy Nhơn vào tháng 7 năm 1618, sắp xếp nơi ăn chốn ở cho phép truyền giáo. Cư sở các ngài sinh sống, và sáng tạo chữ Quốc Ngữ, thành lập trung tâm truyền giáo đầu tiên là Nước Mặn. Nay là Di Tích Nước Mặn, tại Phước Quang, Tuy Phước, tỉnh Gia Lai.

Các Linh mục Dòng Tên tiền khởi đã được quan Khâm sứ Trần Đức Hòa đưa về Quy Nhơn có Francisco de Pina, người Bồ Đào Nha, (1585 – 1625). Pina đến Hội An năm 1617, có mặt tại Nước Mặn năm 1618. Ông mất tại biển Hội An, bị chết đuối trong khi ra tàu ngoài khơi để nhận tài liệu, gặp bão, vì ông mặc áo choàng không bơi được. Francisco de Pina là người am hiểu tiếng Việt nhất trong thế hệ đầu tiên, thầy dạy tiếng Việt trực tiếp cho Alexandre de Rhodes. Người đặt nền tảng khoa học cho việc La tinh hóa tiếng Việt.

Người thứ hai là Francesco Buzomi, người Ý, ( 1576 – 1639), là người “khai sơn phá thạch” cho công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong. Ông là một trong hai linh mục Dòng Tên đầu tiên đến Việt Nam (cùng với Diego Carvalho) năm 1615.

Người thứ ba là Cristoforo Borri người Ý, ( 1583–1632), tới Việt Nam năm 1618, cư trú tại Nước Mặn. Ông vừa truyền giáo, vừa quan sát, ghi chép, để lại tác phẩm nổi tiếng như Relatione della nuova missione delli P.P. della Compagnia di Gesù al Regno della Cocincina (1631), mô tả đời sống xã hội, phong tục, ngôn ngữ ở Việt Nam. Sách của ông trở thành nguồn tư liệu cực kỳ quý giá về Đàng Trong đầu thế kỷ XVII.

Người thứ tư là Gaspar Luis – Bồ Đào Nha, ( 1580–1640)

Tuy không để lại trước tác ngôn ngữ, nhưng đóng góp trong xây dựng cơ sở cộng đoàn Công giáo

Là một trong những thừa sai đầu tiên đặt chân đến Đàng Trong. Hoạt động tại Nước Mặn trong những năm đầu thế kỷ XVII.

Nước Mặn nhờ đó trở thành một trong những trung tâm truyền giáo và trường học tiếng Việt quan trọng nhất đầu thế kỷ XVII, cũng là nơi khởi phát tiến trình hình thành chữ Quốc ngữ.

Cây đa bằng Bê Tông 16 nhánh – Di tích – Nơi phôi thai Chữ Quốc Ngữ Việt Nam, thuộc Phước Quang Tuy Phước ngày nay

Lý do:

  • Nơi đây Dân cư đông đúc, mở lòng đón nhận cái mới.
  • Vị trí an toàn hơn so với các trung tâm chính trị, và có sự bảo trợ của Quan Khâm Giám Quy Nhơn Trần Đức Hòa, tránh được sự kiểm soát gắt gao ban đầu từ chính quyền chúa Nguyễn.
  • Điều kiện giao thông thuận tiện để đi lại giữa các vùng khác như Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, gia Lai, Kom Tum, giờ là các tỉnh Đak Lak, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Gia Lai thượng ngàn.

3. Hành trình truyền giáo và việc sáng tạo chữ Quốc ngữ.

Các giáo sĩ nhận ra rằng để truyền đạo hiệu quả, họ phải học và ghi lại tiếng Việt. Nhưng chữ Hán-Nôm phức tạp, khó tiếp cận với giáo dân bình dân. Họ quyết định dùng mẫu tự Latin để ghi âm tiếng Việt, dựa trên kinh nghiệm Latin hóa tiếng Nhật và tiếng Hoa trước đó.

Tại Nước Mặn, Francisco de Pina, một linh mục người Bồ Đào Nha giỏi ngôn ngữ, bắt đầu hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng chữ cái Latin. Ông dạy cho các đồng sự và học trò bản địa cách sử dụng ký tự mới.

Công cụ truyền giáo:

Mục đích việc tạo ra chữ Quốc ngữ ban đầu không phải để thay thế chữ Nôm mà mục đích chính là để có công cụ truyền giáo, nó giúp các giáo sĩ:

  • Soạn sách giáo lý, kinh nguyện cho tín đồ.
  • Ghi chép tài liệu nội bộ nhanh và dễ hơn.
  • Tạo ra một “ngôn ngữ chung” giữa các giáo sĩ nước ngoài.

4. Những nhân vật then chốt và sự đóng góp

  • Francisco de Pina: Được xem là “cha đẻ” của chữ Quốc ngữ, người đầu tiên dùng ký tự Latin ghi âm tiếng Việt một cách hệ thống.
  • Gaspar d’ AmaralAntonio Barbosa: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chữ viết, soạn từ điển: Việt – Bồ và Bồ Việt và tài liệu. Đã bị thất lạc.
  • Alexandre de Rhodes: Dựa trên công trình của các giáo sĩ tiền khởi, soạn cuốn Từ điển Việt – Bồ – La xuất bản năm 1651 tại Roma, và cuốn Kinh Thánh ” Phép Giảng Tám Ngày bằng song ngữ, tiếng Latin và tiếng Việt, đánh dấu bước ngoặt phổ biến chữ Quốc ngữ ra thế giới.

5. Mở rộng từ Nước Mặn ra cả nước

Từ một trạm truyền giáo đến mạng lưới truyền đạo

Từ Nước Mặn, các giáo sĩ mở rộng hoạt động ra Phú Yên, Khánh Hòa, Quảng Ngãi, Tây Nguyên. Họ đào tạo các thầy giảng người Việt, mang chữ Quốc ngữ đến nhiều cộng đồng giáo dân khắp xú Đàng Trong.
Đồng thời, các bản kinh bằng chữ Quốc ngữ được sao chép, truyền tay, giúp tín đồ học nhanh hơn nhiều lần so với chữ Hán – Nôm.

Những trở ngại

  • Sự cảnh giác của các chúa Nguyễn với tôn giáo mới.
  • Khác biệt văn hóa và phong tục, tập quán.
  • Thiếu phương tiện in ấn tại chỗ, phải gửi bản thảo sang Macao hoặc GOA để in.

6. Giá trị lịch sử và ý nghĩa hiện đại

Ngày nay, khi nhắc đến chữ Quốc ngữ, nhiều người nghĩ ngay đến Alexandre de Rhodes, nhưng các nhà sử với các chứng cứ được thông qua từ Hội thảo khoa học nhấn mạnh: “Nước Mặn – Phước Quang mới là chiếc nôi“, nơi các nguyên lý đầu tiên của chữ viết này hình thành.
Không chỉ là công cụ truyền giáo, chữ Quốc ngữ đã trở thành chìa khóa mở cửa tri thức, góp phần xóa mù chữ, truyền bá văn hóa, và thúc đẩy phong trào canh tân Việt Nam sau này. Với sự đơn giản của bảng chữ cái 24 ký tự, việc học tiếng Việt dễ dàng nhanh chóng, việc xóa nạn mù chữ Quốc Gia cũng được hiện thực hóa vào thế kỉ XIX và Thế kỉ XX khi bác Hồ kêu gọi “Bình dân học vụ”, Xóa nạn mù chữ Quốc Gia.

7. Phước Quang hôm nay & Ký ức còn đọng lại

Hiện nay, tại xã Phước Quang vẫn còn dấu tích của Di Tích Nước Mặn, nơi từng là cư sở các giáo sĩ Dòng Tên tiền khởi đã sinh sống và sáng tạo, phôi thai Chữ Quốc Ngữ, là trung tâm truyền giáo đầu tiên. Mỗi viên gạch, mỗi bức tường còn sót lại là một trang sử sống động về cuộc gặp gỡ Đông – Tây, về sự kiên trì của những người gieo hạt chữ và hạt đức tin.

Phải khẳng định chữ Quốc Ngữ công đầu thuộc về Linh mục Francisco de Pina, và các linh mục Gaspar d’ Amaral, Antonio Barbosa, Alexandre de Rhodes, … và tập thể cộng đồng người dân Việt Nam, các văn sĩ trí thức Việt Nam trong suốt hơn 200 năm.

Hạt giống từ miền gió biển

Từ một làng ven biển nhỏ bé, Nước Mặn đã góp phần làm thay đổi diện mạo văn hóa Việt Nam. Như hạt giống gieo trong lòng đất, chữ Quốc ngữ từ đây đã bén rễ, lớn lên, và trở thành cây cổ thụ ngôn ngữ của dân tộc.
Lịch sử ấy không chỉ để nhớ, mà để nhắc chúng ta rằng: đôi khi, những đổi thay lớn lao nhất lại bắt đầu từ những nơi tưởng như khiêm nhường nhất.

8. Tiểu chủng viện Lòng Sông – Nơi giúp chữ Quốc ngữ hoàn thiện và phát triển

Ngày nay, khi chúng ta có dịp về Tuy Phước Bình Định, thăm lại Di tích Nước Mặn, nhà thờ Gò Thị, hãy ghé Tiểu Chủng viện Lòng Sông, nơi ươm trồng, đào tạo các chủng sinh tới học tập và tu dưỡng để trở thành Linh mục. Sau khi hoàn thành các khóa học tại tiểu chủng viện, các chủng sinh sẽ tiếp tục theo học tại đại chủng viện, và tiếp tục thực tập trên con được trở thành linh mục khoảng 15 – 17 năm.

Tiểu chủng viện Lòng Sông ( Hay Làng Sông ) được sáng lập năm ( 1841 – 1850 ) bởi Stephano Cuenot Thể. Diện mạo ban đầu thô sơ còn là nhà tranh.

Tiểu Chủng Viện Lòng Sông được tu sử nhiều lần,năm ( 1925 – 1927 ) được xây kiên cố mái ngói thay thế mái tranh cũ theo thiết kế của kiến trúc sư, linh mục Charles Dorgeville, một số kiến trúc chính vẫn được giữ gìn tồn tại đến ngày nay như: nhà nguyện, hai dãy lầu hai bên và một số các công trinh phụ, chi tiết khác.

Tiểu chủng viện Lòng Sông cách Quy Nhơn chừng hơn 13 km . Quần thể kiến trúc chia hai phần là hai dãy nhà hai bên, chính giữa là nhà Nguyện. Phía Đông nhà Nguuyện là khu chủng viện, phía Tây là khu nhà Chung, gồm Tòa Giám Mục, nhà in, sở quản lý, nhà hưu dưỡng các linh mục.

nơi đây từng là Trung tâm truyền giáo đầu tiên tại miền Trung, có ý nghĩa vô cùng đặc biệt của người Công giáo

Bước vào Tiểu chủng viện Làng sông, bạn nhạc lạc vào khung trời phương Tây ngay bên ruộng lúa duyên dáng của miền quê Tuy Phước, kiến trúc Gothic đã quen thuộc nơi các Tòa Thị chính, cung điện, nhà thờ Phương Tây hiện ra trước mắt, và hai hàng cây sao xanh cổ thụ đã gần 200 năm tuổi, cùng với lịch sử Tiểu Chủng Viện, trải qua bao thăng trầm của lịch sử vẫn đứng thẳng làm nhân chứng của thời gian.

Nơi đây có một Nhà in chữ Quốc Ngữ, gọi là Nhà In Làng Sông, được Giám mục Eugene Charbonnier Trí thành lập vào năm 1868 ngay trong khuôn viên chủng viện, là một trong ba nhà in lớn nhất Việt Nam, ngoài nhà in Tân Định ở Sài Gòn, và nhà in Ninh Phú, Hà Nội. Nhà in Làng Sông không chỉ in Kinh Thánh, tài liệu công giáo, mà còn in sách báo tập chí, văn học, sách giáo khoa, … là nơi phát triển, phổ biến chữ Quốc Ngữ trong cộng đồng, giúp cho chữ Quốc ngữ ngày một hoàn thiện và phát triển.

Năm 1904, Giám mục Damien Grangeon Mẫn tái thiết nhà in, một số giám đốc điều hành nhà in như: Linh mục Paul Maheu ( 1904 – 1913 và 1919 – 1927 ); Linh mục Charles Dorgeville ( 1927 – 1929 và 1935 – 1937 ); Linh mục Pereaux ( 1929 – 1935 ).

Linh mục Paul Maheu từng học nghề in ấn tại Hồng Koong với Linh mục Francois Monnier, giám đốc nhà in Nazareth. Do vậy dưới thời ông, nhà in Làng Sông phát triển cực thịnh, máy móc trang bị mới, kĩ thuật in giởi, khổ in rộng, số lượng sách báo phát hành lớn cả Đông Dương.

Ấn phẩm cuối cùng của Nhà in Làng Sông phát hành vào tháng 12 năm 1953 sau gần một thế kỉ hoạt động lúc thăng lúc trầm với những đóng góp đáng ghi nhận, vô cùng quan trọng trong việc truyền bá chữ Quốc ngữ và văn học Quốc ngữ vào nửa cuối thế kỉ XIX và nửa đầu thế kỉ XX.

Hiện nơi Nhà In Làng Sông xưa được phục dựng là phòng trưng bày những hình ảnh, tư liệu liên quan đến nhà in xưa và một số ấn phẩm dành cho khách tham quan. Một số thiết bị in còn lại, hình ảnh kỉ vật về hành trình Truyền Giá vào Xứ Đàng Trong và phôi thai chữ Quốc ngữ được lưu tại Giáo xứ Chánh Tòa, địa chỉ số 122 Trần Hưng Đào, phường Quy Nhơn, tỉnh Gia Lai.

     

Chia sẻ :

image image
Nguyễn Thị Xuân Lan

Hơn 16 năm liên tục, miệt mài, đầy đam mê quảng bá cho Du lịch Quy Nhơn – Bình Định. CEO Golden Life Travel, chị Nguyễn Thị Xuân Lan và đội nhóm chuyên gia trẻ của Golden Life luôn tích cực, không ngừng nghỉ quảng cáo cho điểm đến du lịch Quy Nhơn – Bình Định

Tiếp tục khám phá nhé

Bài viết liên quan.

Zalo Messenger Messenger